Chú Bé Trong Vườn Hoa P2- Ái Nữ
Tôi nhớ Hiệp. Sau hai mươi năm tròn tôi vẫn không hề quên và cũng không muốn quên đi. Bao nhiêu lần tôi muốn viết ra câu chuyện giữa chúng tôi thì bấy nhiêu lần tôi không thực hiện. Những câu chuyện khác đã phai mờ, nhưng câu chuyện về Hiệp thì không như thế.
Tôi gõ phím nhan đề “Chú bé trong vườn hoa”. Dưới cái tên truyện ấy, tôi lần lượt liệt kê theo trình tự những tình huống đã xảy ra hai mươi năm trước, một cách dễ dàng, như chưa hề có chi tiết nào rơi rụng khỏi trí nhớ của tôi. Tôi bỏ quên bạn đọc, chỉ nhớ đến nhân vật trong đời thực. Có lẽ không nhà văn chuyên nghiệp nào lại làm như vậy khi họ viết văn.
Những cô bạn của tôi – công viên – ghế đá – chú bé mười tuổi với gương mặt thoa phấn tô son cùng những cánh hoa râm bụt trên trán và hai má. Cuốn vở tập viết – chiếc mũ của một cô bạn – chiếc xắc của một cô bạn khác. Chú bé Hiệp theo tôi về nhà – cuộc trao đổi giữa tôi và bố - Hiệp từ chối sự giúp đỡ cưu mang của bố tôi. Người anh bụi đời của Hiệp – bó chổi chít - bữa cơm trưa. Hiệp chờ tôi ở cổng trường – chúng tôi đã ở bên nhau lần cuối – chiếc thuyền buồm và ngôi sao trên tay Hiệp khi Hiệp ra đi…
…
Với nhu cầu phơi bày những gì đang có trong tâm hồn để rồi nhìn lại, những câu chuyện viết ngắn đều được tôi đăng lên blog. Câu chuyện về Hiệp cũng vậy. Có những độc giả cảm động khi đọc. Bác sĩ Bích Thủy, một người phụ nữ nhạy cảm, lập tức thốt lên: “Em ơi, câu chuyện có thật này…” Tôi đã dán nhãn “truyện ngắn” rồi mà chị ấy vẫn phát hiện ra ngay là chuyện thật. Những người kể chuyện không phải với mục đích văn chương hay kể theo kiểu như thế. Tính có thật của một câu chuyện ảnh hưởng đến bạn đọc ở mức nào đó.
Có nhiều người giống như bác sĩ Bích Thủy, và đó là những bạn đọc vô cùng tài năng. Dù người kể chuyện có bất tài thế nào đi chăng nữa, họ vẫn có thể dựa vào những chi tiết thô sơ để liên hệ đến đời sống, hình dung và tưởng tượng câu chuyện hoàn hảo trong tâm trí họ. Chỉ cần đưa cho họ một nắm hạt giống, họ sẽ nhìn ra ngay cả khu vườn trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Nếu nhân loại toàn những người như thế, tôi tin rằng không cần phải có những nhà văn.
Nhưng những nhà văn vẫn tồn tại, bởi vì có những người khác, như là bạn đọc Bu-lu-khin. Ông là đại diện cho những người từng trải, không dễ ngây thơ tin vào sự tưởng tượng của mình. Bạn bè ông rất nhiều văn nghệ sĩ, bản thân ông thì thích làm công việc chuyển thể tác phẩm văn học sang kịch bản phim. Bình luận của ông nhắc tôi rằng với yêu cầu của một tác phẩm văn chương thì cách kể chuyện của tôi là vô tổ chức và thiếu trách nhiệm. Bạn đọc của tôi là những người lớn, những người không còn nhớ cách hiểu một đứa trẻ nữa, vì họ từ lâu không còn sống như những đứa trẻ. Nhà văn Antoine de Saint-Exupéry, trong tác phẩm “Hoàng Tử Bé” nổi tiếng của mình, đã chỉ ra mức độ hư hỏng nghiêm trọng của những người lớn. Nếu một đứa trẻ vẽ hình một con voi nằm trong bụng một con trăn khổng lồ do bị nuốt, người lớn nhìn vào lại tưởng đó là hình chiếc mũ. Đưa cho họ bức tranh vẽ con cừu bé bỏng, họ nhìn vào chỉ thấy hình chiếc hộp. Những nhà văn, những người trong tâm hồn vẫn còn là đứa trẻ, phải có trách nhiệm nhìn hộ họ.
…
Các độc giả đọc câu chuyện về Hiệp như tác phẩm của một nhà văn, nhưng tôi đã không hề giúp họ nhìn thấy trong công viên ngày hôm ấy đẹp như thế nào. Bầu trời thì xanh trong, nắng thì vàng lộng lẫy, những chú bướm rực rỡ tìm đến những bông hoa tươi thắm của mình… Nhưng tôi có để ý gì đâu, tôi chỉ nhìn thấy Hiệp.
Họa sĩ Tuệ Hương thắc mắc là tại sao ngay từ đầu truyện tôi đã nhấn mạnh rằng “tôi không thích nó”. Có ý tứ gì ở đó mà họa sĩ Tuệ Hương đọc đến hết truyện vẫn không sao hiểu được? Làm sao mà Tuệ Hương có thể hiểu, trong khi ngay chính tôi cũng không hiểu cơ chứ! Nhưng tôi không thể viết khác. Bao nhiêu lần tôi muốn viết ra câu chuyện này, thì bấy nhiêu lần trong đầu tôi vang lên câu đầu tiên: “Tôi không thích nó”.
Có phần nào đó trong con người tôi muốn chống lại tình cảm của tôi đối với Hiệp. Tôi đổ lý do cho chuyện Hiệp đã đòi các cô bạn tôi vẽ mặt. Với Hiệp khi ấy, thoa son phấn lên mặt đâu có ý nghĩa khác gì với việc dán những cánh hoa râm bụt, đó chỉ là một trò nghịch ngợm. Nhưng tôi phải có cớ để ghét Hiệp.
Tôi ghét Hiệp, nhưng tôi lại mừng khi Hiệp về nhà tôi chơi chứ không phải là về nhà một cô bạn khác của tôi. Ở bên Hiệp tôi thấy vui và trong lòng cảm thấy ấm áp. Từ Hiệp tỏa ra một niềm hạnh phúc mà tôi không ý thức được rõ ràng. Tôi muốn nhìn thấy Hiệp cười, gương mặt Hiệp khi ấy rạng ngời đến mức mọi thứ xung quanh Hiệp đều bừng sáng.
Chúng tôi đã vui vẻ biết bao! Nhưng khi Hiệp muốn xưng anh với tôi thì thật là bất ổn. Làm sao tôi có thể chấp nhận để cho một đứa trẻ mười tuổi xưng anh với tôi, một người lớn mười tám tuổi? Tôi phớt lờ ý muốn của Hiệp, không trả lời mà quay sang hỏi Hiệp rằng có phải Hiệp hay xem video không. Một người mười tuổi có lẫn lộn giữa chuyện phim ảnh và đời thực không? Không. Năm mười tuổi tôi đã biết rất nhiều, nhưng tôi vẫn mang bộ mặt ngây thơ, như Hiệp. Nhưng dù sao tôi cũng không hiểu nổi tình cảm lạ lùng đó của Hiệp, và tôi không thể chấp nhận. Hẳn là Hiệp đủ khôn ngoan để nhận thức được khó khăn ấy, nên không bao giờ nhắc lại chuyện đó nữa.
Tôi muốn Hiệp sống cùng tôi, nên đã thuyết phục được bố tôi nhận nuôi Hiệp. Tôi thất vọng khi Hiệp từ chối, nhưng đồng thời cũng cảm thấy đỡ bị khó xử. Làm sao tôi có thể chịu nổi khi Hiệp bị bỏ ngoài hè với cánh cửa khóa, một cách cố tình? Song không thể không ngạc nhiên khi Hiệp từ chối bố tôi quá nhanh, không băn khoăn suy nghĩ, không chờ hỏi ý kiến người anh.
Cuộc sống trôi đi theo cách mà người ta không thể dành thì giờ suy nghĩ quá nhiều về một vấn đề. Tôi lãng quên Hiệp một thời gian, để rồi khi biết Hiệp đã ra đi, tôi lại cảm thấy mất mát và tự trách bản thân mình.
Hình ảnh chú bé Hiệp vẫn ở trong tôi suốt hai mươi năm qua, đẹp đẽ và sống động. Cuối cùng tôi cũng viết ra những ký ức ấy, và độc giả giúp tôi nhìn thấy những khía cạnh khác. Nếu không có bạn đọc Bu-lu-khin, tôi không bao giờ nhận ra Hiệp là một chú bé khác thường, và không hề thấy những hành động của Hiệp là khác thường, trừ một lần Hiệp muốn xưng anh với tôi. Tôi thoải mái khi ở bên Hiệp và coi mọi việc Hiệp làm đều rất tự nhiên. Bạn đọc Bu-lu-khin cho rằng những hành động của Hiệp không phù hợp với một đứa trẻ mười tuổi, như người ta vẫn nghĩ. Hiệp đã không cư xử giống như một đứa em của tôi. Liệu có thể nào, Hiệp dứt khoát từ chối làm con nuôi của bố tôi chỉ vì không muốn làm em tôi?
Trong suốt hai mươi năm, tôi vẫn nhớ Hiệp đồng thời vẫn phủ nhận tình yêu của Hiệp, vì tôi luôn khăng khăng cho rằng Hiệp là trẻ con, mà trẻ con thì không thể biết yêu, hoặc không được quyền yêu như người lớn. Tôi đối xử với Hiệp như thế, trong khi nếu có ai đó nhìn vào tuổi của tôi mà xem tôi như trẻ con, tôi sẽ phản ứng nếu có cơ hội. Bây giờ thì Hiệp không còn là trẻ con nữa, song tôi không biết đến người đàn ông ấy. Còn tôi thì đã chấp nhận để những chàng trai trẻ nào đó xưng anh với tôi, nói lời yêu tôi. Khi Hiệp mười tuổi thì họ chỉ vừa mới sinh ra chưa được bao lâu, nhưng khi họ biết đến tôi thì họ đã ở lứa tuổi đôi mươi. Tôi biết rằng khi yêu và được yêu thì người ta sẽ vui, nhưng tôi chỉ cho phép họ bày tỏ tình cảm ấy khi họ ở xa, và không nghĩ đến chuyện tạo cơ hội cho họ ở bên tôi với những ham muốn thân xác. Bởi vì thân xác dù có giỏi giang đến mấy cũng bị giới hạn vào thời gian và không gian ba chiều, không giống như linh hồn có thể đi đến bất cứ nơi đâu, bất cứ chiều nào trong vũ trụ nếu đủ năng lực.
Bài học mà mãi sau này tôi mới học được, thì Hiệp đã cho tôi biết từ cách đây hai mươi năm, nhưng lúc đó tôi không hiểu. Bây giờ thì tôi không dám coi thường chú bé Hiệp ngày ấy như coi thường một đứa trẻ nữa, vì tôi đã biết Hiệp mang một linh hồn có sức mạnh kỳ lạ, linh hồn ấy vẫn theo tôi từng ấy năm qua.
…
Ôi những thể xác cao ngạo của chúng ta, luôn kiêu hãnh khi được xem là lớn, rồi lại tủi thân khi trở nên cằn cỗi già nua. Chúng ta càng ngày càng hiểu biết nhiều hơn, đồng thời càng hư hỏng nhiều hơn. Rất nhiều khi chúng ta đặt lợi ích của thể xác tạm bợ lên trên những khao khát của linh hồn vĩnh cửu. Chúng ta sợ hãi cái chết, trong khi cái chết là một đặc ân của đấng sáng tạo giúp chúng ta thay đổi, để chúng ta có cơ hội hồi sinh trong hình hài của những đứa trẻ, những kẻ có được hạnh phúc là không ngần ngại làm theo sự mách bảo của linh hồn.
…
Công viên năm xưa nay đã trở thành quán xá. Hoa vẫn nở nhưng là trong khu vườn khác. Đâu đó vẫn có những chú bé lang thang…
Viết xong ngày 22 – 6 – 2014.
Ái Nữ
Nguồn: Hơi Thở Của Vũ Trụ
Tôi gõ phím nhan đề “Chú bé trong vườn hoa”. Dưới cái tên truyện ấy, tôi lần lượt liệt kê theo trình tự những tình huống đã xảy ra hai mươi năm trước, một cách dễ dàng, như chưa hề có chi tiết nào rơi rụng khỏi trí nhớ của tôi. Tôi bỏ quên bạn đọc, chỉ nhớ đến nhân vật trong đời thực. Có lẽ không nhà văn chuyên nghiệp nào lại làm như vậy khi họ viết văn.
Những cô bạn của tôi – công viên – ghế đá – chú bé mười tuổi với gương mặt thoa phấn tô son cùng những cánh hoa râm bụt trên trán và hai má. Cuốn vở tập viết – chiếc mũ của một cô bạn – chiếc xắc của một cô bạn khác. Chú bé Hiệp theo tôi về nhà – cuộc trao đổi giữa tôi và bố - Hiệp từ chối sự giúp đỡ cưu mang của bố tôi. Người anh bụi đời của Hiệp – bó chổi chít - bữa cơm trưa. Hiệp chờ tôi ở cổng trường – chúng tôi đã ở bên nhau lần cuối – chiếc thuyền buồm và ngôi sao trên tay Hiệp khi Hiệp ra đi…
…
Với nhu cầu phơi bày những gì đang có trong tâm hồn để rồi nhìn lại, những câu chuyện viết ngắn đều được tôi đăng lên blog. Câu chuyện về Hiệp cũng vậy. Có những độc giả cảm động khi đọc. Bác sĩ Bích Thủy, một người phụ nữ nhạy cảm, lập tức thốt lên: “Em ơi, câu chuyện có thật này…” Tôi đã dán nhãn “truyện ngắn” rồi mà chị ấy vẫn phát hiện ra ngay là chuyện thật. Những người kể chuyện không phải với mục đích văn chương hay kể theo kiểu như thế. Tính có thật của một câu chuyện ảnh hưởng đến bạn đọc ở mức nào đó.
Có nhiều người giống như bác sĩ Bích Thủy, và đó là những bạn đọc vô cùng tài năng. Dù người kể chuyện có bất tài thế nào đi chăng nữa, họ vẫn có thể dựa vào những chi tiết thô sơ để liên hệ đến đời sống, hình dung và tưởng tượng câu chuyện hoàn hảo trong tâm trí họ. Chỉ cần đưa cho họ một nắm hạt giống, họ sẽ nhìn ra ngay cả khu vườn trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Nếu nhân loại toàn những người như thế, tôi tin rằng không cần phải có những nhà văn.
Nhưng những nhà văn vẫn tồn tại, bởi vì có những người khác, như là bạn đọc Bu-lu-khin. Ông là đại diện cho những người từng trải, không dễ ngây thơ tin vào sự tưởng tượng của mình. Bạn bè ông rất nhiều văn nghệ sĩ, bản thân ông thì thích làm công việc chuyển thể tác phẩm văn học sang kịch bản phim. Bình luận của ông nhắc tôi rằng với yêu cầu của một tác phẩm văn chương thì cách kể chuyện của tôi là vô tổ chức và thiếu trách nhiệm. Bạn đọc của tôi là những người lớn, những người không còn nhớ cách hiểu một đứa trẻ nữa, vì họ từ lâu không còn sống như những đứa trẻ. Nhà văn Antoine de Saint-Exupéry, trong tác phẩm “Hoàng Tử Bé” nổi tiếng của mình, đã chỉ ra mức độ hư hỏng nghiêm trọng của những người lớn. Nếu một đứa trẻ vẽ hình một con voi nằm trong bụng một con trăn khổng lồ do bị nuốt, người lớn nhìn vào lại tưởng đó là hình chiếc mũ. Đưa cho họ bức tranh vẽ con cừu bé bỏng, họ nhìn vào chỉ thấy hình chiếc hộp. Những nhà văn, những người trong tâm hồn vẫn còn là đứa trẻ, phải có trách nhiệm nhìn hộ họ.
…
Các độc giả đọc câu chuyện về Hiệp như tác phẩm của một nhà văn, nhưng tôi đã không hề giúp họ nhìn thấy trong công viên ngày hôm ấy đẹp như thế nào. Bầu trời thì xanh trong, nắng thì vàng lộng lẫy, những chú bướm rực rỡ tìm đến những bông hoa tươi thắm của mình… Nhưng tôi có để ý gì đâu, tôi chỉ nhìn thấy Hiệp.
Họa sĩ Tuệ Hương thắc mắc là tại sao ngay từ đầu truyện tôi đã nhấn mạnh rằng “tôi không thích nó”. Có ý tứ gì ở đó mà họa sĩ Tuệ Hương đọc đến hết truyện vẫn không sao hiểu được? Làm sao mà Tuệ Hương có thể hiểu, trong khi ngay chính tôi cũng không hiểu cơ chứ! Nhưng tôi không thể viết khác. Bao nhiêu lần tôi muốn viết ra câu chuyện này, thì bấy nhiêu lần trong đầu tôi vang lên câu đầu tiên: “Tôi không thích nó”.
Có phần nào đó trong con người tôi muốn chống lại tình cảm của tôi đối với Hiệp. Tôi đổ lý do cho chuyện Hiệp đã đòi các cô bạn tôi vẽ mặt. Với Hiệp khi ấy, thoa son phấn lên mặt đâu có ý nghĩa khác gì với việc dán những cánh hoa râm bụt, đó chỉ là một trò nghịch ngợm. Nhưng tôi phải có cớ để ghét Hiệp.
Tôi ghét Hiệp, nhưng tôi lại mừng khi Hiệp về nhà tôi chơi chứ không phải là về nhà một cô bạn khác của tôi. Ở bên Hiệp tôi thấy vui và trong lòng cảm thấy ấm áp. Từ Hiệp tỏa ra một niềm hạnh phúc mà tôi không ý thức được rõ ràng. Tôi muốn nhìn thấy Hiệp cười, gương mặt Hiệp khi ấy rạng ngời đến mức mọi thứ xung quanh Hiệp đều bừng sáng.
Chúng tôi đã vui vẻ biết bao! Nhưng khi Hiệp muốn xưng anh với tôi thì thật là bất ổn. Làm sao tôi có thể chấp nhận để cho một đứa trẻ mười tuổi xưng anh với tôi, một người lớn mười tám tuổi? Tôi phớt lờ ý muốn của Hiệp, không trả lời mà quay sang hỏi Hiệp rằng có phải Hiệp hay xem video không. Một người mười tuổi có lẫn lộn giữa chuyện phim ảnh và đời thực không? Không. Năm mười tuổi tôi đã biết rất nhiều, nhưng tôi vẫn mang bộ mặt ngây thơ, như Hiệp. Nhưng dù sao tôi cũng không hiểu nổi tình cảm lạ lùng đó của Hiệp, và tôi không thể chấp nhận. Hẳn là Hiệp đủ khôn ngoan để nhận thức được khó khăn ấy, nên không bao giờ nhắc lại chuyện đó nữa.
Tôi muốn Hiệp sống cùng tôi, nên đã thuyết phục được bố tôi nhận nuôi Hiệp. Tôi thất vọng khi Hiệp từ chối, nhưng đồng thời cũng cảm thấy đỡ bị khó xử. Làm sao tôi có thể chịu nổi khi Hiệp bị bỏ ngoài hè với cánh cửa khóa, một cách cố tình? Song không thể không ngạc nhiên khi Hiệp từ chối bố tôi quá nhanh, không băn khoăn suy nghĩ, không chờ hỏi ý kiến người anh.
Cuộc sống trôi đi theo cách mà người ta không thể dành thì giờ suy nghĩ quá nhiều về một vấn đề. Tôi lãng quên Hiệp một thời gian, để rồi khi biết Hiệp đã ra đi, tôi lại cảm thấy mất mát và tự trách bản thân mình.
Hình ảnh chú bé Hiệp vẫn ở trong tôi suốt hai mươi năm qua, đẹp đẽ và sống động. Cuối cùng tôi cũng viết ra những ký ức ấy, và độc giả giúp tôi nhìn thấy những khía cạnh khác. Nếu không có bạn đọc Bu-lu-khin, tôi không bao giờ nhận ra Hiệp là một chú bé khác thường, và không hề thấy những hành động của Hiệp là khác thường, trừ một lần Hiệp muốn xưng anh với tôi. Tôi thoải mái khi ở bên Hiệp và coi mọi việc Hiệp làm đều rất tự nhiên. Bạn đọc Bu-lu-khin cho rằng những hành động của Hiệp không phù hợp với một đứa trẻ mười tuổi, như người ta vẫn nghĩ. Hiệp đã không cư xử giống như một đứa em của tôi. Liệu có thể nào, Hiệp dứt khoát từ chối làm con nuôi của bố tôi chỉ vì không muốn làm em tôi?
Trong suốt hai mươi năm, tôi vẫn nhớ Hiệp đồng thời vẫn phủ nhận tình yêu của Hiệp, vì tôi luôn khăng khăng cho rằng Hiệp là trẻ con, mà trẻ con thì không thể biết yêu, hoặc không được quyền yêu như người lớn. Tôi đối xử với Hiệp như thế, trong khi nếu có ai đó nhìn vào tuổi của tôi mà xem tôi như trẻ con, tôi sẽ phản ứng nếu có cơ hội. Bây giờ thì Hiệp không còn là trẻ con nữa, song tôi không biết đến người đàn ông ấy. Còn tôi thì đã chấp nhận để những chàng trai trẻ nào đó xưng anh với tôi, nói lời yêu tôi. Khi Hiệp mười tuổi thì họ chỉ vừa mới sinh ra chưa được bao lâu, nhưng khi họ biết đến tôi thì họ đã ở lứa tuổi đôi mươi. Tôi biết rằng khi yêu và được yêu thì người ta sẽ vui, nhưng tôi chỉ cho phép họ bày tỏ tình cảm ấy khi họ ở xa, và không nghĩ đến chuyện tạo cơ hội cho họ ở bên tôi với những ham muốn thân xác. Bởi vì thân xác dù có giỏi giang đến mấy cũng bị giới hạn vào thời gian và không gian ba chiều, không giống như linh hồn có thể đi đến bất cứ nơi đâu, bất cứ chiều nào trong vũ trụ nếu đủ năng lực.
Bài học mà mãi sau này tôi mới học được, thì Hiệp đã cho tôi biết từ cách đây hai mươi năm, nhưng lúc đó tôi không hiểu. Bây giờ thì tôi không dám coi thường chú bé Hiệp ngày ấy như coi thường một đứa trẻ nữa, vì tôi đã biết Hiệp mang một linh hồn có sức mạnh kỳ lạ, linh hồn ấy vẫn theo tôi từng ấy năm qua.
…
Ôi những thể xác cao ngạo của chúng ta, luôn kiêu hãnh khi được xem là lớn, rồi lại tủi thân khi trở nên cằn cỗi già nua. Chúng ta càng ngày càng hiểu biết nhiều hơn, đồng thời càng hư hỏng nhiều hơn. Rất nhiều khi chúng ta đặt lợi ích của thể xác tạm bợ lên trên những khao khát của linh hồn vĩnh cửu. Chúng ta sợ hãi cái chết, trong khi cái chết là một đặc ân của đấng sáng tạo giúp chúng ta thay đổi, để chúng ta có cơ hội hồi sinh trong hình hài của những đứa trẻ, những kẻ có được hạnh phúc là không ngần ngại làm theo sự mách bảo của linh hồn.
…
Công viên năm xưa nay đã trở thành quán xá. Hoa vẫn nở nhưng là trong khu vườn khác. Đâu đó vẫn có những chú bé lang thang…
Viết xong ngày 22 – 6 – 2014.
Ái Nữ
Nguồn: Hơi Thở Của Vũ Trụ

Nhận xét
Đăng nhận xét